Tâm thư của 1 doanh nghiệp vận tải nhỏ gửi lên Thủ tướng gây xôn xao dư luận

23/06/2018 22:01

Để rộng đường dư luận và có thêm đồng tâm tư, tôi xin copy lá đơn của một doanh nghiệp nhỏ tương tự gửi lên chính phủ.

Tâm thư của 1 doanh nghiệp vận tải nhỏ gửi lên Thủ tướng gây xôn xao dư luận

Kính gửi: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Lời đầu tiên tôi xin kính chúc Thủ tướng luôn mạnh khoẻ để cống hiến tài trí nhiều hơn nữa cho đất nước, cho dân tộc!

Sau nữa là hết lòng mong mỏi rằng, Thủ tướng sẽ bớt chút thời gian quý báu để đọc kỹ, đọc hết rồi hồi đáp cho tôi và có lẽ là cả “hàng triệu” doanh nghiệp giống như doanh nghiệp tôi trên cả nước Việt Nam này, một số thắc mắc, uẩn khúc khó hiểu mà hơn lúc nào hết, chúng tôi đang rất cần một lời giải đáp thật cụ thể, thật sớm.

Thưa Thủ tướng!

Doanh nghiệp tôi là một doanh nghiệp nhỏ, kinh doanh thương mại thuần tuý (bán buôn và bán lẻ). Doanh nghiệp tôi có 03 xe tải nhỏ để vận chuyển hàng hoá từ kho đến khách hàng. Thời gian gần đây, Cảnh sát giao thông thường dừng xe chúng tôi để xử phạt vì lỗi không có phù hiệu “XE TẢI” dán trên kính xe.

Khi chúng tôi thắc mắc về cơ sở áp dụng thì được giải thích là căn cứ vào Điều 2; Điều 3 và Điều 11 của Nghị định 86/2014/NĐ-CP.

Cụ thể, chúng tôi được giải thích rằng: Theo Điều 2 và Điều 3 của Nghị định này thì doanh nghiệp tôi kinh doanh thương mại nhưng có “liên quan” đến vận tải nên cũng được coi là “có kinh doanh vận tải”…! Đồng thời, theo Điều 11 Nghị định này quy định: tất cả các dòng xe tải “kinh doanh vận tải” đều phải lắp hộp đen hợp chuẩn và làm phù hiệu xe tải.

Lộ trình cụ thể:

Trước ngày 1/1/2016: Xe tải từ 10 tấn trở lên
Trước ngày 1/7/2016: Xe tải từ 7 tấn đến 10 tấn
Trước ngày 1/1/2017: Xe tải từ 3,5 tấn đến 7 tấn
Trước ngày 1/7/2018: Xe tải dưới 3,5 tấn

(Hình ảnh phù hiệu xe tải )

Chiếu theo các điều khoản trên, Cảnh sát giao thông xác định xe của doanh nghiệp tôi là xe “có kinh doanh vận tải” nên đã lập biên bản xử phạt theo quy định.
Thưa Thủ Tướng!

Mặc dù có thấy còn nhiều điều không hợp lý theo cách lý giải trên, nhưng để an toàn cho 3 chiếc xe và cũng nghĩ qua rằng: thôi thì luật Việt Nam nó thế! Vậy nên, tôi quyết định đến Sở Giao thông vận tải tỉnh nhà để xin những “lá bùa” dán kính xe này.

Tuy nhiên, sự việc không dễ như tôi tưởng!

Khi tôi đến để tìm hiểu thủ tục, hồ sơ xin được cấp phù hiệu “XE TẢI”, tôi được cung cấp bảng kê các thủ tục, giấy tờ cần thiết. Theo đó, có 2 loại giấy tờ tiên quyết và bắt buộc cần phải có là:

• Giấy đăng ký kinh doanh của công ty – phải có ngành nghề kinh doanh 4933
• Giấy phép kinh doanh vận tải của Sở GTVT cấp – Giấy phép con

Vậy là, để được sử dụng phương tiện ô tô tải nhằm kinh doanh thương mại thuận lợi, hàng triệu doanh nghiệp như chúng Tôi phải đăng ký và hoạt động thêm cả ngành nghề kinh doanh vận tải?

Nhưng sự việc lại không chỉ có vậy! khi tôi hỏi phương thức, thủ tục để có Giấy phép kinh doanh vận tải thì được cán bộ chuyên trách tư vấn rằng tôi phải đáp ứng được các điều kiện theo Nghị định số 86/2014/NĐ-CP. Theo đó, tại Điều 13 và Điều 19 của Nghị định này quy định như sau (xin chỉ nêu những khoản mục liên quan):

Điều 13. Điều kiện chung kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

Đơn vị kinh doanh vận tải phải có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật.

2. Phương tiện phải bảo đảm số lượng, chất lượng phù hợp với hình thức kinh doanh, cụ thể:

a) Khi hoạt động kinh doanh vận tải phải có đủ số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt; phương tiện phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh vận tải hoặc quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng của đơn vị kinh doanh vận tải với tổ chức cho thuê tài chính hoặc tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật.

Trường hợp xe đăng ký thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã phải có hợp đồng dịch vụ giữa thành viên với hợp tác xã, trong đó quy định hợp tác xã có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý, sử dụng, điều hành xe ô tô thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã;

b) Xe ô tô phải bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường;

c) Xe phải được gắn thiết bị giám sát hành trình theo quy định tại Điều 14 Nghị định này.

3. Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe:

a) Lái xe không phải là người đang trong thời gian bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật;

b) Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phải có hợp đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh vận tải theo mẫu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (trừ các trường hợp đồng thời làchủ hộ kinh doanh hoặc là bố, mẹ, vợ, chồng hoặc con của chủ hộ kinh doanh);

c) Nhân viên phục vụ trên xe phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Nhân viên phục vụ trên xe vận tải khách du lịch còn phải được tập huấn về nghiệp vụ du lịch theo quy định của pháp luật liên quan về du lịch.

4. Người điều hành vận tải phải có trình độ chuyên môn về vận tải từ trung cấp trở lên hoặc có trình độ từ cao đẳng trở lên đối với các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật khác và có thời gian công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 03 năm trở lên.

5. Nơi đỗ xe: Đơn vị kinh doanh vận tải phải có nơi đỗ xe phù hợp với phương án kinh doanh và đảm bảo các yêu cầu về an toàn giao thông, phòng chống cháy, nổ và vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật.

Điều 19. Điều kiện kinh doanh vận tải hàng hoá

1. Đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 Nghị định này.

2. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2017, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công – ten – nơ; đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa sử dụng xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc, xe ô tô vận tải hàng hóa trên hành trình có cự ly từ 300 ki lô mét trở lên phải có số lượng phương tiện tối thiểu như sau:

a) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương: Từ 10 xe trở lên;

b) Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại: Từ 05 xe trở lên; riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ: Từ 03 xe trở lên.

Theo quy định như trên thì các doanh nghiệp thương mại nhỏ như chúng tôi thực sự đứng trước nguy cơ “treo xe” rồi phải không thư­a Thủ tướng?

Thật may! Chúng tôi được một số trang mạng công khai tư vấn cho một con đường “đau khổ” khác để tránh “chết vì luật”. Kể từ khi có con đường này, rất nhiều doanh nghiệp đã có được những lá bùa “phù hiệu XE TẢI” để thoải mái khi đi qua trạm CSGT.

Thưa Thủ tướng!

Tôi gọi con đường “đau khổ” vì thực sự nó giống như là doanh nghiệp bị ép buộc làm sai để được công nhận đúng vậy. Cụ thể là, các doanh nghiệp nhỏ, kinh doanh thương mại, không đáp ứng các quy định trên, muốn có phù hiệu cho phương tiện thì phải: hoặc “giả vờ” góp cổ phần bằng phương tiện đó vào các công ty, hợp tác xã vận tải. Hoặc “giả vờ” ký hợp đồng vận tải với các tổ chức đó để hợp danh.

Về danh nghĩa thì sau khi “ký khống” tham gia, các phương tiện vận tải của chúng tôi sẽ thuộc quyền sở hữu, quyền điều hành và quyền quản lý của các tổ chức đó. Thế nhưng, tiền phí khoảng 2.5 triệu đồng cho mỗi đầu xe/một năm là không hề khống. Doanh nghiệp chúng Tôi có 03 đầu xe, mỗi năm phải chi tối thiểu là 7.5 triệu đồng để có được 3 tấm phù hiệu theo Tôi là không mấy cần thiết. Cả nước có hàng triệu doanh nghiệp như chúng tôi sẽ là một nguồn thu hàng nghìn tỷ đồng.

Từ những rối rắm và bất cập kể trên, Tôi muốn mạn phép thay mặt đại bộ phận doanh nghiệp có cùng hoàn cảnh, xin được Thủ Tướng trả lời cho những thắc mắc như sau:

1. Theo như giải thích tại Điều 3, Nghị định 86/2014/NĐ-CP để áp dụng vào các doanh nghiệp nhỏ, kinh doanh thương mại, nuôi trồng, dịch vụ ăn uống..vv như chúng tôi và cho rằng có kinh doanh vận tải là đã phù hợp chưa? Bởi hầu hết các hoạt động vận chuyển của chúng tôi không những không sinh lợi mà còn phải bù chi phí thêm!

2. Nếu áp đặt cho rằng những doanh nghiệp như chúng tôi có kinh doanh vận tải thì Chính phủ đã có nghị định, thông tư nào quy định hoặc hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp như chúng tôi thực hiện việc gắn phù hiệu hay chưa?

3. Việc hợp danh bằng cách “góp khống” cổ phần bằng phương tiện, hay “ký khống” hợp đồng vận tải với các tổ chức chuyên kinh doanh vận tải để có phù hiệu, là chủ trương từ Chính phủ hay chỉ là cách lách luật của các tổ chức, cá nhân có phương tiện chưa đáp ứng điều kiện của Nghị định 86?

4. Cũng từ ý câu 3, nếu là chủ trương của Chính phủ thì phí mà các doanh nghiệp phải đóng là phí gì? Nếu gọi là thuế thì có bị thu thuế chồng thuế không? Mức thu là bao nhiêu?

Nguồn thu đó phân bổ ra sao?

5. Thêm ý từ câu số 3, nếu là chủ trương của Chính phủ thì việc hợp danh như vậy có mâu thuẫn với luật sở hữu tài sản và luật doanh nghiệp hay không? Khi mà tài sản của doanh nghiệp thương mại lại bị điều động, quản lý bởi một doanh nghiệp vận tải?

Trên đây là những thắc mắc mà chúng tôi rất mong được Ông Thủ tướng trả lời sớm nhất có thể. Thời gian không còn nhiều khi 1/7 tới đây, toàn bộ xe tải sẽ phải áp dụng gắn phù hiệu theo quy định.

Sau tất cả những thắc mắc trên đây, chúng tôi vẫn trăn trở một điều rằng, Nghị định của Chính phủ sẽ tạo ra một quy định không chính thức nhưng lại bắt buộc đó là: Muốn tham gia kinh doanh thương mại (và một số ngành khác nữa) thì phải đáp ứng đủ điều kiện theo Nghị định 86/2014/NĐ-CP.

Điều này hoàn toàn trái ngược với quy định về các ngành kinh doanh không cần điều kiện của Luật Doanh nghiệp, trái ngược với chủ trương cải cách hành chính và Chính phủ kiến tạo của Thủ tướng Chính phủ.

Một lần nữa, tôi xinh kính chúc Thủ tướng luôn khỏe, mong sẽ nhận được hồi âm sớm!

Kính thư

Theo Nguyễn Trường Sơn


Hậu Hà